Chemistry Labs
Đại học · 25 phút

Graphene: dày một nguyên tử, rộng một liên kết

Xoay mạng tổ ong cacbon sp² mở rộng, lần theo các vòng sáu cạnh và gắn mặt π phẳng với tính dẫn điện và độ bền kỷ lục của graphene.

Mục tiêu

Kiểm tra mỗi cacbon có đúng ba nguyên tử lân cận, tìm các vòng sáu cạnh, và suy luận vì sao electron π định xứ kém làm tấm dẫn điện.

Dụng cụ và hoá chất

Bộ dựng phân tử ảo: mảnh graphene hiển thị sẵn để bạn lật trong 3D; so sánh trong đầu với dạng kim cương hay ống nano của cacbon.

Cách làm

  1. Nghiêng tấm theo hướng cạnh: nó dày đúng một nguyên tử — vật rắn mỏng nhất có thể.
  2. Lần theo một lục giác và đếm số lân cận của một nguyên tử: ba liên kết ở 120° — dấu hiệu lai hoá sp².
  3. Để ý không có hydro nào trên nguyên tử bên trong — mọi hoá trị đã cam kết với khung π.
  4. Hình dung cuộn tấm thành ống (ống nano) hay xếp các bản sao (graphit): một vật liệu, ba kiến trúc đồng vị hình.

Điều cần quan sát

  • Mọi cacbon bên trong đều liên kết với đúng ba lân cận — không có cacbon bốn phối trí (sp³) như kim cương.
  • Tấm phẳng tuyệt đối ở quy mô này; các lục giác lấp kín mặt phẳng, không khe hở, không chồng lấn.
  • Nguyên tử mép mang liên kết treo — mảnh graphene thật hoạt tính (và thường được tận cùng bằng hydro hay oxy) chỉ ở rìa.

Giải thích

Mỗi cacbon dùng ba orbital sp² cho mạng σ tổ ong; các orbital pz còn lại hợp thành vùng π và π* lấp đầy một nửa, chạm nhau tại các điểm Dirac, nên electron chuyển động như không khối lượng — độ linh động trên 105 cm2 V−1 s−110^5\ \mathrm{cm^2\,V^{-1}\,s^{-1}} ở nhiệt độ thấp. Cùng mạng liên kết trong mặt phẳng đó cho mô đun Young gần 1 TPa, và một lớp chỉ hấp thụ πα≈2,3%\pi\alpha \approx 2{,}3\% ánh sáng khả kiến.

Nhà hoá học liên quan

Chủ đề liên quan

Thí nghiệm ảo: một mô hình đơn giản hoá để xây dựng trực giác. Nó không thay thế thực hành thật và huấn luyện an toàn; không tự làm lại tại nhà khi không có người hướng dẫn.