Chemistry Labs
THPT · 12 phút

Phân rã phóng xạ: đọc chu kì bán rã

Theo dõi phần còn lại N/N₀ của bốn đồng vị y học và kiểm tra rằng nó giảm đi một nửa sau mỗi chu kì bán rã.

Mục tiêu

Đọc đường cong phân rã, kiểm chứng N/N₀ = (1/2)^(t/T½) và gắn chu kì bán rã của mỗi đồng vị với ứng dụng y học của nó.

Dụng cụ và hoá chất

Chỉ mô phỏng — nguồn phóng xạ thật được bọc kín và chỉ nhân viên có phép mới thao tác; máy đếm Geiger–Müller dùng trong minh hoạ.

Cách làm

  1. Chọn iot-131 và rê chuột tại t = 8,02 ngày: đường mẹ màu đỏ phải chỉ khoảng 0,50.
  2. Kiểm tra t = 2T½ và t = 3T½: mong đợi N/N₀ ≈ 0,25 và 0,125, trong khi đường con xanh đạt 0,75 và 0,875.
  3. Chuyển sang photpho-32 (T½ = 14,3 ngày) và vàng-198 (T½ = 2,70 ngày): so sánh độ dốc giảm của từng đường.
  4. Xác nhận tổng phần mẹ và con luôn bằng 1: hạt nhân được biến đổi chứ không mất đi.

Điều cần quan sát

  • Hai đường cong cắt nhau đúng tại T½, nơi một nửa hạt nhân còn lại và một nửa đã phân rã.
  • T½ càng ngắn đường càng dốc: vàng-198 gần như mất hẳn sau hai tuần trong khi photpho-32 tồn tại nhiều tháng.

Giải thích

Mỗi hạt nhân phân rã độc lập với xác suất không đổi theo thời gian, nên tập hợp tuân theo N = N₀ e^(−λt) = N₀ (1/2)^(t/T½) với λ = ln 2 / T½. Các chất phát β⁻ này đều cho con bền: ¹³¹I → ¹³¹Xe, ³²P → ³²S, ¹⁹⁸Au → ¹⁹⁸Hg, ¹³³Xe → ¹³³Cs; chu kì bán rã được chọn để liều y học tắt nhanh.

Lịch sử thí nghiệm

Năm 1896 Becquerel phát hiện tia xuyên thấu của urani; Marie Curie đặt tên 'phóng xạ' và cùng Pierre tách poloni, rađi từ hàng tấn quặng pitchblende. Rutherford và Soddy sau đó lập luận nguyên tử thực sự biến đổi — phóng α đổi nguyên tố đi hai đơn vị điện tích — và các phép đo thống kê của Rutherford cho chu kỳ bán rã không đổi mà mô phỏng này tái hiện.

Nhà hoá học liên quan

Chủ đề liên quan

Thí nghiệm ảo: một mô hình đơn giản hoá để xây dựng trực giác. Nó không thay thế thực hành thật và huấn luyện an toàn; không tự làm lại tại nhà khi không có người hướng dẫn.