Trực giácTrực giác: một đám mây, không phải quỹ đạo
Electron trong nguyên tử không phải hành tinh nhỏ chạy trên quỹ đạo cố định. Cơ học lượng tử mô tả nó bằng hàm sóng ψ; bình phương ∣ψ∣2 cho biết khả năng tìm thấy electron tại mỗi điểm. Orbital là vùng có xác suất cao đó, vẽ thành một đám mây.
Đám mây điểm 3D cho thấy nơi electron của nguyên tử kiểu hiđro có khả năng xuất hiện, với các số lượng tử n, l, m đã chọn.
Mỗi chấm là một vị trí có thể có của electron. Đổi n, l, m: orbital s là hình cầu, p có hai thuỳ, d phần lớn có bốn thuỳ. Màu cam và xanh là dấu của ψ, không phải điện tích.
Phổ thôngMức phổ thông: các số lượng tử
Định nghĩa: Số lượng tử
n=1,2,3,… quyết định lớp và thang năng lượng. l=0,1,…,n−1 quyết định phân lớp và hình dạng (s,p,d,f). m chạy từ −l đến +l và quyết định hướng. Spin ms=±21 phân biệt hai electron cùng chiếm một orbital.
orbitals in shell n=n2,electrons≤2n2
Electron điền vào các orbital từ năng lượng thấp đến cao (Aufbau), tối đa hai electron mỗi orbital với spin ngược nhau (Pauli), và trải đều trên các orbital cùng năng lượng với spin song song trước khi ghép đôi (Hund).
Mô hình lớp vỏ 3D của nguyên tử với các electron quay quanh hạt nhân theo các lớp K, L, M, N; lớp ngoài cùng được làm nổi bật.
Chọn số hiệu nguyên tử Z: dòng chữ hiện cấu hình electron. Các electron màu cam là electron hoá trị.
Ví dụ: Sắt, Z=26
Viết cấu hình electron của sắt.
Lời giải
Fe: 1s22s22p63s23p63d64s2. Phân lớp 4s được điền trước 3d, nhưng khi tạo FeX2+ và FeX3+ thì sắt mất các electron 4s trước.